“Hoảng quá xin rút lại hồ sơ”
Tại một hội thảo về vấn đề này tổ chức ở TP.HCM tháng 6 vừa qua, ông
Lê Ngọc Tú, Giám đốc Công ty kinh doanh phát triển nhà Bình Dân, bức
xúc kể, dự án của ông được UBND TP.HCM giao đất cuối 2009, xây dựng
7.000m2 nhà ở trên diện tích 14.000m2 đất nông nghiệp để giải quyết tái
định cư dự án kênh Ba Bò. Vừa qua, khi dự án đã hoàn thành xây dựng hạ
tầng, công ty đi đóng tiền SDĐ thì Sở Tài chính hướng dẫn thuê tư vấn
định giá để làm căn cứ tính tiền SDĐ. Tuy nhiên, mức giá theo thẩm định
là 3,8 triệu đồng/m2, nhân với 14.000m2 thì tổng giá trị tiền SDĐ là
hơn 54 tỉ đồng. Theo Nghị định 69 phải đóng 100% tiền SDĐ theo giá thị
trường, như vậy, chỉ 14.000m2 đất ruộng, xây được 7.000m2 đất ở mà phải
đóng tiền SDĐ là 54 tỉ đồng. "Tôi hoảng quá xin rút lại hồ sơ, bởi nếu
Sở Tài chính trình UBND TP mức thuế này thì chúng tôi không cách gì
kham nổi. Đáng lẽ dự án đã có thể bán cho UBND Q.Thủ Đức để tái định cư
cho người dân nhưng bị ách lại đến giờ", ông Tú than.
Theo ông, việc thẩm định giá đất gần như được khoán trọn cho đơn vị
tư vấn, tuy nhiên thẩm định của các đơn vị này chính xác tới đâu, sát
giá thị trường tới mức nào thì không thể chắc chắn được. Hơn nữa, lấy
gì đảm bảo sự thẩm định này là vô tư, bởi hoàn toàn có thể xảy ra tình
trạng DN "nhờ vả" tư vấn thẩm định giá đất thấp xuống (trong trường hợp
đóng tiền SDĐ) hoặc cao lên (trong trường hợp định giá để bán cho Nhà
nước). Ông Tú cho rằng chỉ có định giá đất để dùng chung như bảng giá
đất hằng năm của UBND TP thì mới khách quan được. Do đó, kiến nghị nên
xây dựng bảng giá đất hằng năm sát giá thị trường (do Sở Tài chính tham
khảo của các đơn vị tư vấn) để làm căn cứ áp giá SDĐ, thay vì để DN làm
từng dự án riêng lẻ, vừa thiếu thống nhất vừa dễ sinh tiêu cực.
Ông Lương Trí Thìn, Tổng giám đốc Công ty địa ốc Đất Xanh, cho biết
một dự án của công ty đang triển khai ở Q.Gò Vấp cũng đang bị "treo" vô
thời hạn. Ông nói, luật cho phép sau khi làm xong phần móng là có thể
kinh doanh, song đến nay dự án đã xây đến tầng 7 vẫn chưa thể đem bán.
Nguyên nhân là suốt 1 năm qua, việc hướng dẫn thẩm định giá đất không
rõ ràng nên công ty không xác định được tiền SDĐ phải đóng là bao nhiêu
để đưa vào giá thành. Mặt khác, hầu hết DN khi làm dự án đều phải vay
ngân hàng, nhưng khi chưa đóng tiền SDĐ thì chưa có giấy chứng nhận
quyền SDĐ và do đó ngân hàng không cho vay.
Dễ nảy sinh tiêu cực và phức tạp hóa thủ tục
Ông Nguyễn Cảnh Hà, Giám đốc Công ty địa ốc An Thiên Lý phân tích,
thực tế bất hợp lý của việc đóng tiền SDĐ không phải xuất phát từ Nghị
định 69, mà đã tồn tại từ năm 2004 trong các Nghị định triển khai thi
hành Luật Đất đai, trong đó quy định mức thuế suất chuyển mục đích SDĐ
là 100% giá trị đất theo mục đích sau dự án. Tuy nhiên, trước nay việc
đóng thuế SDĐ ở TP.HCM và Hà Nội dựa trên bảng giá đất do UBND TP ban
hành, thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường, cho nên chưa thấy
được sự vô lý. Đến Nghị định 69 yêu cầu "UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá
chuyển nhượng quyền SDĐ thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất
cụ thể cho phù hợp" (tức không theo khung giá hằng năm nữa) thì số tiền
SDĐ phải đóng đội lên chóng mặt.
Theo ông Hà, việc định giá đất sát thị trường là hợp lý, nhưng áp
mức thuế suất 100% giá trị đầu ra của dự án thì cần phải xem lại.
"Chẳng hạn, bố cho con miếng đất trị giá 1 tỉ đồng. Người con đi đóng
tiền SDĐ thì bị áp mức 1 tỉ đồng, ngoài ra còn thêm các khoản thuế
khác. Như vậy, bố cho con 1 tỉ đồng nhưng thực chất lại cho âm đi mấy
chục triệu đồng", ông Hà nói. Ông Hà kiến nghị nên áp mức thuế suất cố
định từ 10 - 15% giá trị đất theo thị trường, bởi nếu đóng 100% giá trị
đất theo thị trường rồi lại khấu trừ tiền đền bù sẽ rất dễ nảy sinh
tiêu cực và phức tạp hóa thủ tục.
Trước thực tế tiền SDĐ không được tính trên diện tích kinh doanh
thương phẩm mà lại tính trên toàn bộ diện tích đất dự án; việc khấu trừ
tiền đền bù giải tỏa thì tính theo theo bảng giá đất TP, thấp hơn mức
bồi thường thực tế của DN đến 70 - 80% (nhưng khoản chênh lệch này
không được ngành thuế công nhận vì không có chứng từ nên DN phải nộp
25% thuế thu nhập doanh nghiệp), ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội
BĐS TP.HCM, cho rằng cần áp dụng 2 phương án đóng tiền SDĐ: Một là,
định đúng giá đất sát thị trường và ấn định một mức thu tiền SDĐ cố
định từ 10 - 20% giá đất để DN chủ động tính đầu vào, đầu ra. Hai là,
định đúng giá đất sát thị trường và khấu trừ tiền đền bù giải tỏa theo
giá thực tế DN đã bỏ ra.
Mặt khác, theo ông Châu, chỉ thu tiền SDĐ trên diện tích đất xây
dựng với mục đích phát triển kinh doanh, nhằm khuyến khích DN dành
nhiều diện tích hơn cho các công trình công cộng, phúc lợi xã hội.
|
Không có chứng từ thì không thể khấu trừ
Trả lời Thanh Niên,
ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Tài chính kiêm Tổng cục trưởng
Tổng cục Thuế nói: "Về nguyên tắc hạch toán, khấu trừ thuế, DN đền bù
giải phóng mặt bằng như thế nào thì được trừ vào chi phí như thế. Khi
đền bù giải phóng mặt bằng UBND tỉnh sẽ ban hành quyết định, thứ nhất
tiền đền bù theo giá của UBND, thứ hai theo Nghị định 69, UBND sẽ phê
duyệt được hỗ trợ bao nhiêu (từ 1 đến 5 lần). Như vậy DN phải chi cho
người dân 2 khoản, một là tiền đền bù, hai là tiền hỗ trợ. Toàn bộ chi
phí đền bù hỗ trợ đó được khấu trừ, trừ trường hợp không có chứng từ
thì sẽ không được khấu trừ khi nộp tiền SDĐ.
Thực
tế, các DN khi tiến hành hỗ trợ, đền bù cho người dân, nhiều khi đã hỗ
trợ thêm các "khoản sau lưng" như tivi, tủ lạnh... Các khoản này không
có chứng từ nên cơ quan thuế không có cơ sở, căn cứ để khấu trừ. Theo
quy định của Nghị định 69, những khoản đền bù chi phí từ 1,5 - 5 lần,
nếu có chứng từ thì được nhưng không chứng từ thì chẳng ai dám giải
quyết.
Còn về việc DN băn khoăn do phải
nộp tiền SDĐ trên toàn diện tích của dự án chứ không phải đất thương
phẩm, về nguyên tắc, một đơn vị được giao đất đầu tư dự án, đất thương
phẩm nói chung theo quy hoạch chiếm 30% - 40% tổng diện tích. Nhưng để
có 30% - 40% thì DN phải đền bù tất cả, và khi tính tiền thuế SDĐ cơ
quan thuế cũng căn cứ vào số chi phí đó để khấu trừ rồi".
Anh Vũ (ghi)
|
Theo Thanhnien.com.vn